Người ta biết Huế không chỉ vì Huế là cố đô, có nhiều cảnh đẹp, có nhiều di tích lịch sử như đền đài, lăng tẩm, thành quách cổ kính mà còn vì những bài thơ trữ tình của các thi nhân nổi tiếng, những câu hò êm ái đượm tình quê hương và nhất là những bản tân nhạc ca tụng xứ Huế thơ mộng đã được phổ biến đến khắp mọi miền trên đất nước.

Có những người chưa bao giờ đặt chân đến Huế nhưng qua các bài hát lại thuộc lòng tên những danh lam thắng cảnh của đất cố đô như sông Hương, núi Ngự, cầu Trường Tiền, chùa Thiên Mụ, đài Nam Giao, thôn Vĩ Dạ v.v… Xa hơn nữa có biển Thuận An, Núi Bạch Mã…

Huế là cái nôi văn hóa của miền Trung, là nguồn cảm hứng của các văn nhân, nghệ sĩ, là nơi dừng chân của các tao nhân mặc khách. Người ta biết đến Huế nhiều nhưng ít ai biết đất cố đô đã sản sinh ra bao nhiêu nhạc sĩ sáng tác tài hoa.

Khi người Pháp đặt chân lên đất nước VN họ mang theo vào cả nền âm nhạc Tây phương và đem truyền bá trong dân chúng. Những nhạc sĩ  của đất Thần Kinh cũng dần dần làm quen với ký âm pháp phương Tây và từ đó các nhạc sĩ sang tác tân nhạc đầu tiên ra đời.

Để giới thiệu với bạn đọc những nhạc sĩ gốc Huế nổi tiếng còn sống hay đã qua đời, TVTS sẽ trích đăng những bài viết trên mạng, và mở đầu là nhạc sĩ Thu Hồ, thân phụ của ca sĩ Mỹ Huyền và nhạc phụ của tài tử Trần Quang.

Nhạc sĩ Thu Hồ bà con anh em chú bác với nhạc sĩ Trần Văn Lý (quê làng Tân Mỹ, là bác họ của người viết ca khúc Nguyễn Hồng Anh, chủ bút TVTS), một nhạc trưởng kỳ cựu và là người hướng dẫn đàn dương cầm cho nhiều nhạc sĩ nổi tiếng sau này. Bài sau đây của nhạc sĩ Lê Dinh.

Tử sinh hữu mạng, đã biết rằng chết hay sống đều có số mạng nhưng trước tin nhạc sĩ Thu Hồ vĩnh viễn lìa đời, bạn bè thân tình cũng như anh em trong giới nghệ sĩ không thể nào không bàng hoàng xúc động dẫu biết rằng cành cây đã khô, đã mục thì ắt hẳn có một ngày nào đó sẽ gãy dù chỉ bởi một cơn gió nhẹ.

Tin nhạc sĩ Thu Hồ qua đời vào ngày 19 tháng 5 năm 2000 đã làm cho giới tân nhạc vô cùng cảm xúc và thương mến mặc dù trước đó nhiều tháng, tin ông đau bệnh vì tuổi già phải đưa vào bệnh viện, đã được anh em biết và ân cần thăm hỏi để theo dõi bệnh tình của ông.

Nhạc sĩ Thu Hồ, tên thật là Hồ Thu, sinh ngày 14/10/1919 tại làng Tân Mỹ ngó ra cửa Thuận An thuộc tỉnh Thừa Thiên (Huế), mất ngày 19/5/2000 tại Santa Ana, California (Hoa Kỳ), hưởng thọ 81 tuổi.

Thu Hồ là một trong những ca nhạc sĩ đầu tiên trong phong trào phổ biến và phát triển tân nhạc tại miền Nam Việt Nam, nối tiếp thời gian nhạc Pháp lời Việt do các bậc tiền bối như  Tư Chơi, cô Kim Thoa, Thanh Tùng…  là những người tiên phong mở lối . Trước đó, những bài hát nổi tiếng của Pháp được thu thanh vào đĩa nhôm, có tráng một lớp nhựa, loại 78 vòng do Vincent Scotto sáng tác và do tài tử kiêm nam ca sĩ Tino Rossi trình bày đã được lớp tuổi thanh thiếu niên Việt Nam ở lứa tuổi học sinh đón nhận một cách nồng nhiệt. Những bài như “Laissez-moi vous aimer”, “Le chaland qui passe”, “Tango mystérieux”, “Marinella”, “C’est à Capri”, “La chanson du gondolier” v.v… là những bài hát nằm lòng của những thanh thiếu niên Việt Nam trước 1945. Nhưng ngay từ năm 1936, nhạc sĩ Thu Hồ đã là ca sĩ và lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng Huế với bài “La chanson du gondolier” và đã được công chúng đón nhận thật nồng nhiệt.

Khi còn học ở bậc Trung học tại Huế, trường Pellerin, nhờ ở trọ tại nhà của ông bác là thân phụ của nhạc sĩ Trần văn Lý, một nhạc sĩ rất nổi tiếng lúc bấy giờ và cũng là trưởng ban nhạc Hoàng gia từ đời Khải Định, nhạc sĩ Thu Hồ, vì quá say mê âm nhạc nên đã nhờ nhạc sĩ Trần văn Lý chỉ dẫn cho bước đầu về phần nhạc lý. Năm 1938, mới có 19 tuổi, ông phải tha phương cầu thực với mớ kiến thức âm nhạc vở lòng, làm trưởng ga hỏa xa luân phiên rồi làm thư ký bút toán ngân hàng Đông Dương.

Năm 1943, lúc ông còn làm trưởng ga xe lửa ở Ga Dầu Giây, ông nhớ nhà, nhớ mẹ và viết bài “Quê Mẹ”, nhạc phẩm đầu tay của ông. Dù đó là bản nhạc đầu tiên nhưng đã được giới ngưỡng mộ đón nhận một cách nồng nhiệt và thực tế của sự tồn tại lâu dài và bền bĩ của bản nhạc này đã được chứng minh theo dòng dài thời gian với việc tái bản đến 18 lần, một kỷ lục chưa từng thấy, và đã có 12 trung tâm băng nhạc thu vào băng cassette và CD . Quý vị ở vào lứa tuổi trung niên trở lên không ai mà không thuộc một vài câu của bản nhạc này:

Đêm khuya trăng mơ mắt trông về trong cõi xa mờ

Nơi xa xăm kia tôi say nhìn quê cũ dấu yêu

Ôi tình quê hương nơi chốn xưa có người mẹ hiền

Tóc màu hoa bạc chiều chiều mắt ngấn lệ vì con…”

Năm 1947, ca sĩ Thu Hồ gia nhập ban Thần Kinh Nhạc Đoàn khi ban này vừa mới ra đời với sự cộng tác của ban nhạc Trần văn Lý và các ca sĩ Minh Diệu, Minh Tần, Mộc Lan, Thu Thu, Kim Nguyên, Mạnh Phát, Vĩnh Lợi, Châu Kỳ, Tôn Thất Sở v.v…

Năm 1948, Đài Phát Thanh Pháp Á ở đường De Lattre de Tassigny mở thêm mục Tân nhạc Việt Nam và nhạc sĩ Thu Hồ được đài mời cộng tác và nhờ Đài Pháp Á mà tên tuổi nhạc sĩ Thu Hồ được mọi người biết đến. Sau đó, Đài Phát Thanh Pháp Á được chuyển giao lại cho chính quyền Việt Nam để trở thành Đài Phát Thanh Saigon và nhạc sĩ Thu Hồ cũng nối tiếp công việc của mình ở Đài Phát Thanh Saigon rồi sau đó ông cũng cộng tác với Đài Quân Đội.

Trong thời gian này, nhạc sĩ Thu Hồ có mặt ở khắp nơi vì ngoài phạm vi ca nhạc sĩ, ông còn là một nhà soạn kịch nổi tiếng thời đó và đồng thời cũng là một diễn viên có hạng . Ông cũng là diễn viên chính trong nhiều vở kịch do ông soạn như “Hai chàng một áo” và “Thầy lang bất đắc dĩ” đã đem đến cho khán giả những trận cười rất thâm thúy.

Về kịch ngắn cũng như trường kịch, Thu Hồ đã soạn có hơn 100 vở mà một số lớn đã được ban Thẩm Thúy Hằng mua bản quyền để trình diễn trên Đài Truyền Hình.

Năm 1954, cũng như bao thanh niên khác trong cơn quốc biến, nhạc sĩ Thu Hồ gia nhập Quân đội và được trao giữ chức vụ Trưởng ban Tuyên truyền lưu động Đệ I Quân khu, đi khắp đó đây để ủy lạo binh sĩ. Trong dịp này ông có viết bài “Khúc ca Đồng Tháp” với phần lời ca của Trọng Danh. Hết hạn quân dịch, Thu Hồ trở về đời sống dân sự và năm 1957, ông gia nhập ban văn nghệ Vì Dân của Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia.

Từ năm 1959 đến năm 1970, nhạc sĩ Thu Hồ là giáo sư Âm nhạc các trường Trung học tư thục nổi tiếng ở Saigon như Nguyễn Bá Tòng, Thánh Thomas, Thiên Phước, Nguyễn Trường Tộ v.v… Nhạc sĩ Thu Hồ là thành viên của Hội Âm nhạc S.A.C.E.M. (Pháp), trụ sở tại Paris.

Một biệt tài khác nữa của nhạc sĩ Thu Hồ mà ít người biết đến là ông còn là một nhà thơ nổi danh nhưng bởi ông không ưa khoe khoang, không thích tự đánh bóng mình và cũng không muốn ai nhắc nhở đến mình cho nên ít người nghe nói đến . Năm 1965, ông đã xuất bản tập thơ đầu tay của ông mang tên “Ánh Bình Minh”, mang sắc thái Công giáo vì theo ông, thơ tình cảm yêu đương ca ngợi tình yêu đôi lứa đã có quá nhiều cho nên ông muốn dành riêng tập thơ này của ông để ca tụng đạo Thánh.

Năm 1993, thi sĩ Thu Hồ cùng với thi sĩ luật sư Đỗ Đức Hậu được Hội Thi sĩ Quốc tế (International Society Of Poets) bầu là “Đại sứ thi ca hòa bình” trong Hội nghị Thi ca Quốc tế nhóm họp tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Đây là chức vụ cao trọng nhất của Hội dành cho các thi sĩ ngoại quốc về tham dự Hội nghị. Hội này có hơn 100 ngàn thi nhân đại diện cho toàn quốc Hoa Kỳ và 41 quốc gia trên toàn cầu.

Ngày 14/10/1993, một đêm ca nhạc mang tên là “Đêm Quê Mẹ” được tổ chức tại khiêu vũ trường Ritz ở Anaheim (Cali) để đánh dấu ngày ca khúc “Quê mẹ” được 50 tuổi. Cũng trong dịp này, một tuyển tập nhạc có tên là “Hoa Bốn Mùa” của Thu Hồ cũng được phát hành với 22 bản nhạc ưng ý nhất của Thu Hồ, trong số hơn 200 ca khúc do ông sáng tác trong hơn 50 năm nay, như “Quê Mẹ”, “Tiếng Sáo Chiều Quê”, “Mẹ” (thơ Lâm Tường Dũ), “Nhớ Nhau”, “Sầu Ly Biệt”, “Tím Cả Rừng Chiều”, “Cô Nữ Sinh Đồng Khánh”, “Tà Áo Trưng Vương” v.v…

Sau năm 1975, nhạc sĩ Thu Hồ còn kẹt lại Việt Nam cho đến năm 1990 mới được cô con gái là Mỹ Hà, cựu xướng ngôn viên Anh Ngữ Đài Phát Thanh Saigon và chồng là tài tử điện ảnh Trần Quang bảo lãnh sang Hoa Kỳ.

Lúc ban đầu, ông cư ngụ tại San Diego, 2 năm sau ông dời về Santa Ana sống với cô con gái là ca sĩ Mỹ Huyền cho đến ngày ông qua đời.

Hơn nửa thế kỷ phục vụ cho nền tân nhạc Việt Nam, từ thuở phôi thai cho đến khi lớn mạnh như ngày hôm nay, nhạc sĩ Thu Hồ đã góp thật nhiều công sức để làm phong phú thêm bộ môn này. Ông mất đi, làng tân nhạc Việt Nam mất một cột trụ để giữ vững ngôi nhà tân nhạc Việt Nam.

Xin vĩnh biệt một người nghệ sĩ đã suốt cuộc đời tận tụy phụng sự nền ca nhạc Việt Nam, đem niềm vui và yêu thương tô điểm cho cuộc đời từ hơn nửa thế kỷ nay.

Nhạc Sĩ Lê Dinh