Ngày mai là hết tết. Mỗi năm chỉ ba ngày tết và chỉ không khi trước tết là hào hứng. Đã lâu rồi, từ khi còn kẹt lại, tôi đã không biết đến tết. Thứ nhất, không họ hàng gần và gia đình, chỉ thui thủi hai mẹ con thì tết cũng vô nghĩa lý. Sau nữa lúc ấy đầu óc bận rộn với chuyện “làm thế nào để thoát” nên không hứng thú gì với tết.

Ra hải ngoại cũng vậy. Không gia đình nên cũng không hào hứng. Một ngày như mọi ngày. Coi vậy chứ cũng hơi hơi tin. Buồn cười đêm 30, đang ôm phone nói chuyện với ” người tình net ” , tôi la lên “Stop. Giao thừa rồi. Anh chúc em đi” “Chúc em vui với những gì em có”. Tôi trả lời rất nhanh “Em cũng chúc anh vui với những gì em có!”. Đầu giây im lặng trong tích tắc. ” Người tình net ” của tôi làm sao thông minh bằng tôi được! (cười). Sau đó thì anh “Phải thêm vào là …vui với những gì em có mà em tặng anh!”. Tôi chỉ “hừ”. Phụ nữ “femme enfant” thích nghịch như HLC thì sẽ chóng mặt nếu đối thoại với “nàng”!

Ngay đêm 30 của Việt Nam, tôi nhận thư anh Đàm Trung Phán. Anh đưa PPS của Liên Như ( em ruột chị Hà Thanh) lên youtube và viết cho nhóm nhỏ chúng tôi như sau:

Tối khuya hôm qua, chị Liên Như lại gửi thêm cho tôi PPS “Phiên Gác Đêm Xuân” (PGĐX) . Tôi ngồi xem PGĐX mà thấy ngậm ngùi: một phần vì cá nhân chị Hà Thanh cũng đã được chứng kiến cuộc tấn công của CSVN tại Huế . Chị Hà Thanh và gia đình đã gửi gấm tâm tình biết ơn này đến các chiến sĩ Việt Nam và Hoa Kỳ đã đẩy lui được lính CS Bắc Việt . Đây không những là một Youtube mà còn là một tài liệu văn-hóa-sử nữa :

Tôi tò mò coi vì thấy giới thiệu “tài liệu văn hoá sử”. Bình thường tôi ít coi vì không có thì giờ. Với youtube, thường là tôi để nghe âm thanh trong khi làm việc khác.

Khi coi, đến những đoạn mô tả về Huế Mậu Thân, tôi rưng rưng và khi đến đoạn cả gia đình Hà Thanh nói rằng ơn nghĩa không bao giờ quên vì gói quà tết của NS Nguyễn Văn Đông gửi cho Hà Thanh năm đó đã nuôi 30 người sống sót cầm cự trong vụ Tết Mậu Thân ở Huế thì tôi khóc. Hồi trước tôi có nghe Hà kể khi Hà còn sống nhưng bây giờ xem lại, vẫn thấy cảm động.

Ngoài Mấy Dặm Sơn KhêKhúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp có gì đó vừa bi vừa hùng vừa man mác vừa bâng khuâng thì Phiên Gác Đêm Xuân là một nhạc phẩm về lính rất hay.

Bẩy năm trước, tôi gọi về Việt Nam cho nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông và sau đó ông vừa viết vừa trả lời về Phiên Gác Đêm Xuân rất hay:

Vào năm 1956, đơn vị tôi đóng quân ở Chiến khu Đồng Tháp Mười, được xem là mặt trận tiền tiêu nóng bỏng vào thời bấy giờ. Khi ấy, tôi mang cấp bực Trung úy, mới 24 tuổi đời, còn bạch diện thư sinh. Tuy hồn vẫn còn xanh nhưng tâm tình đã nung trong lửa chín ở quân trường. Chính tại Đồng Tháp Mười, vùng đất địa linh nhân kiệt, đã gợi hứng cho tôi sáng tác những bản hùng ca như Súng Đàn, Vui Ra Đi, một thuở được hát vang trong Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu. Rồi tiếp sau đó là các bản nhạc Phiên Gác Đêm Xuân, Chiều Mưa Biên Giới, Sắc Hoa Màu Nhớ được ra đời cũng tại vùng đất thiêng này. Khi đi vào vùng hỏa tuyến, là chàng trai trẻ độc thân, với một mối tình nho nhỏ thời học sinh mang theo trong ba-lô, tôi bước nhẹ tênh vào cuộc chiến đầu đời.

Ngày đó Đồng Tháp Mười còn là đồng không mông quạnh, lau sậy ngút ngàn, dân cư thưa thớt, sống co cụm trên những gò đất cao giữa vùng đồng lầy nước nổi quanh năm. Người ở hậu phương lúc bấy giờ nhìn về Đồng Tháp Mười như là vùng đất bí hiểm với những huyền thoại Lúa Ma nuôi quân đánh giặc, về Tổng Đốc Binh Kiều, Thiên Hộ Vương thời chống Pháp qua những trận đánh lẫy lừng ở Gãy Cờ Đen, Gò Tháp mà chiến tích được tạc vào bia đá ở Tháp Mười Tầng còn lưu lại đến ngày nay. Mùa xuân năm đó, đơn vị tôi đóng trên Gò Bắc Chiêng, có tên là Mộc Hoá, nằm sát biên giới Việt Nam-Campuchia, sau này là Tỉnh lỵ Kiến Tường. Đơn vị cũa tôi đã có những cuộc giao tranh đẫm máu vào những ngày giáp tết trên những địa danh Ấp Bắc, Kinh 12 và tuyến lửa Thông Bình, Cái Cái, Tân Thành. Dù vậy, mùa xuân vẫn có cánh én bay về trên trận địa và hoa sen Tháp Mười vẫn đua nở trong đầm dù bị quần thảo bởi những trận đánh ác liệt. Cứ mỗi độ xuân về, sông Vàm Cỏ lại mang về từng đàn tôm cá từ biển hồ Tông Lê Sáp, vượt vũ môn theo đám lục bình trôi về vùng Tam Giác Sắt, như nhắc nhở Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Đồng Tháp Mười lập danh sách cho những người được về quê ăn Tết. Vì còn độc thân nên tên tôi được ưu tiên ghi vào Sổ Nhật Ký Hành Quân và ở lại đơn vị trong những ngày Tết. Dù không ai nghĩ có đánh nhau ngày đầu năm nhưng quân lệnh phãi được tuân hành nghiêm chỉnh. Trước ba ngày Tết, tôi được lệnh lên chốt tiền tiêu, tăng cường cho cứ điểm, mang theo chiếc ba-lô với chút hành trang lương khô, cùng tấm ảnh cũa người em gái hậu phương, cũng là cơ duyên sau đó để tôi viết nên bài tình ca Sắc Hoa Màu Nhớ.

Tiền đồn cuối năm, đêm 30 Tết, trời tối đen như mực, phút giao thừa lạnh lẽo hắt hiu, không bánh chưng xanh, không hương khói gia đình. Tôi ngồi trên tháp canh quan sát qua đêm tối, chỉ thấy những bóng tháp canh mờ nhạt bao quanh khu yếu điểm như những mái nhà tranh, chập chờn dưới đóm sáng hỏa châu mà mơ màng về mái ấm gia đình đoàn tụ lúc xuân sang. Thay cho lời chúc Tết là tiếng kẻng đánh cầm canh và tiếng hô mật khẩu lên phiên gác. Vào đúng thời điểm giao thừa, ngọn đèn bão dưới chiến hào thắp sáng lên như đón chào năm mới thì cũng là lúc những tràng súng liên thanh nổ rền từ chốt tiền tiêu. Khi ấy vào buổi tinh mơ của trời đất giao hòa, vạn vật như hòa quyện vào trong tôi, có hồn thiêng của sông núi, có khí phách của tiền nhân. Tôi nghe tâm hồn nghệ sĩ của mình rộn lên những xúc cảm lạ thường, làm nảy lên những cung bậc đầu tiên của bài Phiên Gác Đêm Xuân:

“Đón giao thừa một phiên gác đêm

chào Xuân đến súng xa vang rền.

Xác hoa tàn rơi trên báng súng

ngỡ rằng pháo tung bay

ngờ đâu hoa lá rơi…”

Rồi mơ ước rất đời thường:

“Ngồi ngắm mấy nóc chòi canh

mơ rằng đây máinhà tranh

mà ước chiếc bánh ngày xuân

cùng hương khói vương niềm thương…”

Bài Phiên Gác Đêm Xuân được ra đời trong hoàn cảnh như thế, cách đây nửa thế kỷ, đánh dấu một chuỗi sáng tác của tôi về đời lính như Chiều Mưa Biên Giới, Mấy Dặm Sơn Khê, Sắc Hoa Màu Nhớ, Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp, Xin Đừng Trách Anh, Lá Thư Người Lính Chiến, Anh Trước Tôi Sau, Lời Giã Biệt… vân vân. Sau ngày 30 tháng Tư năm 75, các bản nhạc này cùng chung số phận tan tác như cuộc đời chìm nổi của tôi.

Xin nghe Nguyễn Văn Đông kể về Phiên Gác Đêm Xuân:

http://thuvientoancau.org/HoangLanChi/Music/NoiVePhienGacDXuan.mp3

Phải nói nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông viết hay vì ông từng là soạn giả tuồng cải lương nên viết với ông là điều dễ dàng. Giọng nói của ông thật đặc trưng miền Nam. Hồi đó tôi than thở “Trời ơi, Hoàng Lan Chi phải sửa chính tả hỏi ngã cho anh mệt quá!” Không hiểu sao khi nghe ông nói về những địa danh Biển Hồ, về Tông Lê Sáp, về Vàm Cỏ, lòng tôi bồi hồi nhớ ngày cũ. Trong Phiên Gác Đêm Xuân có những câu rất gợi hình và tuyệt đẹp như “Xác hoa tàn rơi trên báng súng, ngỡ rằng pháo tung bay ngờ đâu hoa lá rơi”. Hay một chút ngậm ngùi với “Trách chi người đem thân giúp nước, đôi lần nhớ bâng khuâng, gượng cười hái hoa xuân”. Và cả đau đáu “Ngồi ngắm mấy nóc chòi canh, mơ rằng đây mái nhà tranh, mà ước chiếc bánh ngày xuân..” rồi não nùng “Tủi duyên người năm năm tháng tháng, mong chờ ánh xuân sang mà sao xuân cứ đi”

Phiên Gác Đêm Xuân là một nhạc phẩm cho lính, thân phận người lính trong thời chiến, hay cả về nhạc và lời.

Đây là Phiên Gác Đêm Xuân do Trần Kiêm Liên Như thực hiện PPS và Đàm Trung Phán đưa youtube. Giữa chừng nhạc bị gián đoạn một chút trước khi tua lại từ đầu nhưng xin các bạn xem vì những hình ảnh và lời viết rất cảm động.