Từ khi loài người có mặt trên trái đất, âm nhạc cũng đã xuất hiện và sau đó nó dần dần hình thành và phát triển. Âm nhạc đã qua các thời kỳ nhưng trong thời trung cổ khoảng thế kỷ 11 – mức thời gian mà cách thức xếp đặt nốt nhạc này ra đời do một linh mục người Ý tên Guido d’Arezzo dùng để dạy trẻ em học hát… và sau đó, có nhiều tìm tòi thể nghiệm cải biến âm nhạc đã đạt được những thành tựu rất quan trọng.Âm nhạc chẳng là gì khác ngoài những âm thanh hoang dã, nhưng nó được văn minh hóa ở thời gian và giai điệu.

Trên thế giới, đa phần nhiều dân tộc ở nhiều nền văn hóa, âm nhạc là một phần quan trọng trong đời sống của họ. Quan niệm về con người giữa Tây và Đông có thể khác nhau nhưng sự giống nhau nằm ở chung quanh khái niệm về con người. Âm nhạc cũng tương đồng. Âm nhạc không có biên giới dù nhạc sĩ, ca sĩ là người nước nào. Nó giúp thể hiện những suy nghĩ, tình cảm, mang đến những giây phút của cảm xúc thăng hoa và khiến đầu óc chúng ta được thư giãn. Âm nhạc thấm đượm vào con người rất sớm, từ khi chúng ta còn là thai nhi nhỏ bé trong lòng mẹ, khi còn chưa thấy ánh sáng mặt trời đã được cha cho nghe, hoặc được tiếp xúc với âm nhạc qua những lời ru à ơi của mẹ. Trong suốt thời gian chúng ta lớn lên, không khi nào thiếu vắng âm nhạc.

Hiện nay, nhu cầu thưởng thức âm nhạc ngày càng cao, bởi âm nhạc mang đến những giây phút của cảm xúc thăng hoa khiến đầu óc chúng ta được thư giãn, giảm áp lực nặng nề trong cuộc sống đời thường đầy bất an, nhiều loạn động. Ngoài ra, trong thời đại ngày nay, cuộc sống hằng ngày của chúng ta không chỉ đơn thuần để thoả mãn nhu cầu vật chất, thụ hưởng bản năng “tứ khoái” cảm xúc trần trụi tầm thường mà còn phải hưởng thụ về giá trị tinh thần. Đối với các quốc gia tiến bộ, người ta rất coi trọng giáo dục thẩm mỹ từ lớp mầm non để từ đó dân chúng được nâng cao thị hiếu thẩm mỹ biết nghe nhạc, xem tranh, cảm thụ nghệ thuật bởi văn hóa nghệ thuật đã làm cho cuộc sống ý nghĩa và có giá trị đích thực.

Bất kỳ ở một đất nước nào trên thế giới nếu có xung đột, chiến tranh xảy ra từ hai phía, âm nhạc có thể biến thành công cụ để tuyên truyền, phản kháng đối phương nhằm đạt được một mục đích duy nhất là chiến thắng. Từ đó có những bài quốc ca, trường ca hoặc những ca khúc về người lính. Đối với các nhạc sĩ chân chính, họ luôn trăn trở làm cho con người hướng đến cái đẹp, cái chân, cái thiện để cuộc sống có chất lượng. Do các giai đoạn lịch sử của đất nước những người thiếu tâm, tuệ và tầm khi đứng trên đỉnh cao quyền lực, vật chất, danh vọng thường kiêu căng đố kỵ, cống cao ngã mạn bảo thủ trì trệ với tâm phân biệt hẹp hòi đào sâu thù hận lâu dài trong quá khứ thắng, thua cuộc dễ gây chia rẽ ức chế trong cộng đồng xã hội.

Trong lãnh vực nghệ thuật thơ, văn, nhạc, họa nhất là âm nhạc người ta chủ quan áp đặt cho nó một cái tên bằng màu sắc nào đó, là nhạc vàng, nhạc đỏ hoặc nhạc xanh, v.v…Thực ra, nhạc vàng là dòng nhạc Việt Nam ra đời từ thập niên 1930 còn gọi là tân nhạc khởi nguồn từ âm nhạc phương Tây xuất hiện vào thế kỷ 14. Đến thế kỷ 19 nó phát triển với nét đặc trưng riêng, những giai điệu nhẹ nhàng vọng lên từ trái tim, mang theo hơi thở tình yêu của cuộc sống. Nhịp điệu rất phong phú thường là bolero, rumba, ballade, slow, chachacha, tango, valse, v.v … và cũng tùy trình độ, sở thích của người sáng tác và người cảm thụ, nội dung, ca từ có thể trữ tình, lãng mạn, sâu sắc, đậm chất thơ hoặc dung dị bình dân, quá dễ dãi như người ta thường gọi là… nhạc “sến” !

Trước năm 1975, dòng nhạc này phổ biến tại miền Nam. Đương nhiên nhạc vàng bị cấm trên các phương tiện truyền thông miền Bắc, nhưng vẫn được người nghe yêu thích cả trong Nam lẫn ngoài Bắc. Sau này đối với người Việt ở hải ngoại thì nhạc vàng trở thành một dòng nhạc chủ đạo trong thị hiếu người nghe bởi nội dung hoài niệm quá khứ và thuận ngôn ngữ.

Về mặt lý luận, nhạc vàng hay nhạc đỏ không có lỗi gì, do con người hẹp hòi áp đặt cho nó cái tên bởi tâm phân biệt chấp trước; giai điệu, hòa thanh và tiết tấu là tương đồng nhưng chỉ khác nhau về nội dung, ca từ. Từ xưa đến nay bất kỳ ở đâu dòng nhạc (hoặc ca khúc) nào áp đặt người nghe nhiều lần mới cảm thì không có giá trị đích thực. Một dòng nhạc hoặc nhạc phẩm hay chỉ nghe qua một lần đã cảm không thể áp đặt luôn sống mãi trong lòng người nghe và ngược lại nó sẽ tự đào thải. Với những đặc trưng của nhạc vàng hiện nay nó vẫn đang tồn tại ở Việt Nam như một tồn tại khách quan. Đa phần công chúng nâng niu đón nhận và cho rằng nhạc vàng là nhạc của một thời hoàng kim, vàng son, hoặc hoàng sắc âm nhạc của thập niên 1930.

Thời phát tiết của tầng lớp văn nghệ sĩ trí thức trước chiến tranh không bị ràng buộc về thân phận con người, biến động xã hội, đậm chất trữ tình lãng mạn, tiếc nuối và mơ mộng một thời xa xưa huyền ảo. Nó không giới hạn thời gian trước chiến tranh và ai cũng cảm thấy có tâm sự của chính mình trong đó. Cũng có người cho rằng trong thời chiến đa phần những sáng tác có ca từ ray rứt, bi thảm, ủy mị, bế tắt và bệnh hoạn của người lính không có lợi cho chính quyền được gọi là văn hóa suy đồi, nhạc của đối phương nên về sau nó luôn gặp trắc trở.

Những ca khúc trước chiến tranh (nhạc tiền chiến) khoảng năm 1930 đến 1946 cũng được xếp là nhạc vàng. Đó là dòng nhạc mới tiếng Việt theo âm luật Tây phương, có nhiều ca khúc viết dạng bán cổ điển với nhiều phong cách trữ tình lãng mạn trước và trong chiến tranh như nhạc của Văn Cao với “Thiên thai”, Nguyễn Văn Tý với “Dư âm”, Lê Mộng Nguyên với “Trăng mờ bên suối”, Đặng Thế Phong với “Con thuyền không bến”, Phạm Duy với “Cô hái mơ”, Lê Thương với “Hòn vọng phu”, Dương Thiệu Tước với “Tiếng xưa”, Hoàng Quý với “Cô láng giềng”, Hoàng Giác với “Mơ hoa”, Đoàn Chuẩn – Từ Linh với “Gửi gió cho mây ngàn bay”, Anh Bằng với “Nỗi lòng người đi”, Lam Phương với “Kiếp nghèo”, Cung Tiến với “Hương xưa”, Từ Công Phụng với “Giọt lệ cho ngàn sau”, Nguyễn Văn Đông với “Chiều mưa biên giới”, Vũ Thành An với “Đời đá vàng”, Ngô Thụy Miên với “Riêng một góc trời”, v.v… Cảm xúc về mùa xuân có : “Ly rượu mừng” của Phạm Đình Chương, “Mộng chiều xuân” của Ngọc Bích, “Xuân này con không về” của Trịnh – Lâm – Ngân, “Gái xuân” của Từ Vũ, “Xuân họp mặt” của Văn Phụng, “Hoa xuân” của Phạm Duy, “Xuân và tuổi trẻ” của La Hối, v.v… rất giá trị đã sống mãi cùng năm, tháng. Ngoài ra, Cung Tiến, Nguyễn Văn Đông, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Trầm Tử Thiêng, Thanh Sơn, Trịnh Công Sơn, Phú Quang, Hoàng Thanh Tâm, v.v… là những cây cổ thụ viết về tình yêu, đất nước hoặc thân phận con người trong biến động xã hội cũng được áp vào dòng nhạc tiền chiến bởi cùng thể loại trữ tình lãng mạn.

Những tác giả này viết ra những ý tưởng trừu tượng không chỉ đậm tính nhân văn mà còn cô đọng, sâu sắc, không dàn trải, kể lể và lời ca dễ đi vào lòng người đến nỗi có những tác phẩm từ người già đến trẻ em không thuộc vài ba bài cũng hát được dăm ba câu.

Bolero hiện nay là trào lưu thời thượng mà các phương tiện truyền thông đề cao đang được nhiều người quan tâm. Do vậy, tôi chỉ lạm bàn về dòng nhạc Bolero (Boléro). Dòng nhạc mà người ta thường gọi là nhạc Bolero bởi nhiều người tranh cãi sôi nổi khi xuất hiện chương trình “Thần tượng Bolero”. Có người cho rằng Bolero là tên gọi chung trong đó lẫn nhiều ca khúc trữ tình ở miền Nam phát triển vào thập niên 1960 – 1970. Nhưng cũng có người cho rằng Bolero là Bolero, không thể lẫn lộn với nhạc trữ tình.Vào thế kỷ 18, Bolero là tiếng Tây Ban Nha – một điệu vũ phóng khoáng trữ tình được sáng tạo bởi vũ sư Sebastian Zerezo tại Cádiz vào năm 1780. Sau đó, các nhạc sĩ Cuba và Mexico biến tấu với các điệu thức viết theo phép ký âm 4/4, 2/4 tạo ra hẳn một dòng nhạc Bolero mới, lấp lánh, lãng mạn và đậm chất Latin.

Dòng nhạc Bolero này bao gồm các điệu: Bolero, rumba, rumba bolero, mambo, calypso, baiao; kể cả tango, tango habanera, chachacha. Ai cũng biết nguyên lý nghệ thuật là một nhưng khác nhau ở loại hình, âm nhạc có cách chơi, cách xử lý ca khúc. Bolero cũng xuất hiện trong tác phẩm của các nhà soạn nhạc: Chopin, Debussy, Bizet, Saint – Saens, Moszkowski, Ravel và trong nhạc kịch Zarzuela của Tây Ban Nha, ca kịch của Pháp, v.v…

Vào năm 1928, Maurice Ravel – nhà soạn nhạc người Pháp đã sáng tác cho nhạc vũ Ballet của ông bằng giai điệu này, được coi là giai điệu dài và hay nhất của thế kỷ 20. Đó là một thành công lớn trong sự nghiệp sáng tác của Ravel bởi nó thuần khiết về giai điệu, hòa thanh và tiết tấu. Sau này Bolero còn vô vàn biến thể khác. Sở dĩ Bolero phong phú bởi khi nó du nhập đến một vùng miền nào là sẽ có biến thể. Điều đó cho thấy Bolero không phải là dòng nhạc hay thì người ta đã quên lãng từ lâu.

Bolero nổi bật nhất tại Việt Nam từ thập niên 1950 và phổ biến trong các bài hát tại miền Nam Việt Nam đến nay. Bolero tiết tấu chậm, nhịp nhàng thường dựa trên một điệu nhảy cổ điển. Thường được viết trên hai loại nhịp đó là Bolero nhịp 4/4 và Bolero nhịp 2/4 Bolero thông thường chơi ở nhịp 4/4 nhưng khi chuyển qua phần điệp khúc, phách mạnh vừa ở nhịp 4/4 thường được nhấn mạnh hơn để tăng độ dồn dập. Chính vì thế lúc này nhịp 4/4 trở nên gần giống hoặc chuyển qua hẳn nhịp 2/4.

Nhiều người cho rằng bản “Chuyến đò Vỹ tuyến” (Lam Phương) là bản Bolero đầu tiên được sáng tác vào năm 1955. Cũng có người khẳng định các bài hát theo điệu Bolero đầu tiên là “Nắng chiều” (Lê Trọng Nguyễn), “Trăng phương Nam” (Anh Hoa), “Chiều trong rừng thẳm” (Anh Việt) sáng tác trước 1954. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có tài liệu nào cho biết chính xác bản Bolero đầu tiên là bản gì!

Từ năm 1955, tại miền Nam cũng đã phát triển dòng nhạc Bolero này. Nhạc sĩ Trúc Phương dung hợp với phong cách dân ca Nam bộ viết một loạt bài tình ca Bolero cung thứ, nó rất gần gũi với đông đảo người lao động. Dòng nhạc này qua chén trà, chung rượu đối ẩm với họ có tác dụng thư giãn, quên đi nỗi nhọc nhằn để ngày mai tiếp tục đời cần lao.

Cũng như đờn ca tài tử, Bolero được công chúng yêu chuộng, vì nói lên được tình cảm mộc mạc của con người và gần gũi với đời thường, nhưng “mộc mạc” quá ngưỡng, nhiều người cho rằng thị hiếu thẩm mỹ của nó dưới mức trung bình của cô diễn viên người Áo đó là Maria Margarethe Anna Schell (Mari Sến) thủ vai vũ nữ trong phim “Tình yêu diễm lệ” với bài “Mambo Italiano” trong trang phục nhếch nhát nghèo nàn hoặc là người ở đợ, gánh nước mướn và cả hai ở địa vị thấp kém nên người ta gọi là “con sen” mang ý thương hại.

Có thể dòng nhạc này khi thị dân ít thích vì một số bản nhạc có ca từ dễ dãi quá bình dân len lõi về thôn quê nên người ta gọi là “Bolero chợ Nọ”, chưa sang trọng. Theo các nhà nghiên cứu, trong âm nhạc không có nhạc sang hoặc nhạc sến mà chỉ có khuynh hướng các trường phái hàn lâm và dân gian. Xét về phương diện mỹ học nghệ thuật, Bolero cũng như thơ, văn, họa, điêu khắc ít nhất được tạm phân hai tầng, một tầng hàm chứa sự văn minh nhất định và một tầng hết sức dân dã.

Tuy nhiên, nhạc sang nhạc sến chưa quan trọng bằng thời kinh tế thị trường điều đáng sợ nhất là những người thương mại hóa nghệ thuật dẫn đến “nhạc sĩ” thiếu tài năng “quên” tính sáng tạo, trông cậy truyền thông và PR biến hoá từ vô danh thành hữu danh, thường viết bợ đỡ, bắt chước, chắp vá thiếu cảm xúc thuần khiết đi theo vết xe người trước hoặc bỏ tiền cầu danh mà thiếu năng khiếu và không rèn luyện.

Kiến thức âm nhạc rất cần thiết để nghe và hát, người có âm vực rộng nhưng thiếu kiến thức thường hát bắt chước hoặc hiểu nhầm hát là “hét” bởi chưa am hiểu nhạc lý và không biết hoàn cảnh ra đời tác phẩm nên có “truyền” nhưng vô “cảm”.

Nghệ thuật có rất nhiều cách học giá trị nhất là trải nghiệm trong cuộc sống chứ không phải sính danh hiệu, học hàm học vị. Đáng tiếc có nhiều người chuộng hư danh làm đảo lộn về giá trị đạo đức trong tâm thức xem như một “chính danh”. Cũng bởi chuộng hư danh nên không ít vấn nạn thói hư tật xấu xuất hiện như “đạo” nhạc hoặc “mì ăn liền” sản xuất “tác phẩm” hàng loạt với sự hỗ trợ của phần mềm công nghệ nhiều ca khúc vô bổ nhảm nhí thì làm gì có tác phẩm để đời, đi vào lòng người !!! “

Ca sĩ” chưa chín đã háo danh, giỏi khoe thân và hàng hiệu, giỏi thay chồng đổi vợ vì hào quang “danh vọng”, giỏi hát nhép, thích làm “mới” tác phẩm nhưng lại làm tác phẩm người ta cũ thêm, thậm chí không hiểu nội dung hát sai từ hoặc tự đổi lời ca khúc thiếu tôn trọng tác giả và khán thính giả…! Không riêng gì một số ca sĩ làm Bolero biến chất mà nhiều chương trình Bolero hiện nay cũng góp phần làm mất giá trị dòng nhạc này. Những năm gần đây xuất hiện rất nhiều chương trình “Thi hát Bolero” nhưng chỉ khoác lên chiếc áo mới cho các ca khúc cũ, lạm dụng cả những bài hát không thuộc dòng nhạc này.

Vì bệnh hình thức nên người ta chỉ quan tâm cho đầu tư “hoành tráng” về sân khấu, âm thanh điện tử “hiện đại”, sản xuất thương mại hoá hơn là lưu tâm nghệ thuật và đa phần giám khảo chỉ đưa ra nhận định ngoài chuyên môn : khen tặng về ngoại hình. Họ chưa tạo được dấu ấn với công chúng bằng một ca khúc thực sự Bolero mà chỉ làm mờ nhạt trách nhiệm tư vấn thẩm định cho thí sinh và định hướng công chúng. Đa phần thí sinh biểu diễn đơn điệu biến tấu đủ kiểu thức hổ lốn tung hứng nhau gọi là “sáng tạo” không theo nguyên lý nghệ thuật nào. Có thể tương lai không xa Bolero sẽ đánh mất đặc trưng, mờ nhạt màu sắc truyền thống nguy cơ biến thể của dòng nhạc này sẽ khó lường!

Thưởng thức âm nhạc cũng như món ăn thường theo “gu”, nghe, hát để giải trí mua vui nhưng thẩm thấu nghệ thuật đích thực thì tùy vào trình độ, thị hiếu thẩm mỹ của mỗi người và nền giáo dục của một đất nước. Hiểu một cách khách quan, Bolero “sang” hoặc “sến” không phải là dòng nhạc, tiết điệu mà ở chỗ năng lực sáng tác của nhạc sĩ và nhận thức của người ca sĩ biết chọn lựa ca khúc để hát. Nó hay hoặc chưa là do năng lực nhạc sĩ hạn chế, dễ dãi hoặc là uyên bác sâu sắc; ca sĩ có tư duy sáng tạo, truyền cảm hoặc rập khuôn thiếu cảm xúc chiều theo thị hiếu ca nhạc thị trường.

Một ca khúc hay mới tạo cho người ca sĩ nổi tiếng và không thể một ca sĩ nổi tiếng là làm cho ca khúc nổi tiếng, trừ phi đó là ca khúc hay. Một ca khúc hay phải hội đủ giai điệu, nội dung, ca từ, hòa âm phối khí, giọng hát phù hợp và phong cách trình bày của ca sĩ. Phong cách sáng tác ca khúc của Trần Thiện Thanh với “Hoa trinh nữ”, Trúc Phương với “Nửa đêm ngoài phố”, Phạm Đình Chương với “Xóm đêm”, Hoàng Thi Thơ với “Duyên quê”, Dzũng Chinh với “Những đồi hoa sim”, Anh Việt Thu với “Hai vì sao lạc”, Lê Dinh với “Tấm ảnh ngày xưa,” Minh Kỳ – Hoài Linh với “Chuyến tàu hoàng hôn”, Minh Kỳ với “Biệt kinh kỳ”, Châu Kỳ với “Con đường xưa em đi”, Hoàng Nguyên với “Ai lên xứ hoa đào”, Thanh Sơn với “Nhật ký đời tôi”, Tâm Anh với “Chuyện tình không dĩ vãng”, v.v… nếu được người ca sĩ trải nghiệm sống với thời đó trình bày thì người nghe lắng đọng tâm can thấm từng câu ca nốt nhạc, như giãi bày tâm tư của chính mình.

Một số phong cách khác như Vinh Sử với “Còn nhớ không em”, Trịnh Lâm Ngân với “Yêu một mình”, Trương Hoàng Xuân với “Kẻ đến sau”, Thái Thịnh với “Duyên phận”, Vũ Thanh với “Đắp mộ cuộc tình”, v.v… cũng làm không ít người nghe xao xuyến trái tim. Bởi vậy, cảm thụ âm nhạc của mỗi người đều do môi trường giáo dục thẩm mỹ mà có.Với nhiều biến động xã hội, con người chúng ta luôn chất chứa nhiều tâm sự. Dòng nhạc Bolero như văn chương hiện thực và lãng mạn được hòa trộn vào nhau. Nó là ngôn ngữ tỏ tình đã chạm đến góc sâu tâm hồn, gợi nhớ cho nhiều thế hệ hát chúng. Nhiều người cho rằng Bolero là một điệu nhạc dễ hát bởi họ chưa biết âm nhạc cũng là một loại hình nghệ thuật khó. Bolero không phải ai hát cũng dễ hay kể cả một giọng ca trong trẻo vang vọng hay một làn hơi dài và dày nếu thiếu chất chân quê, luyến láy đặc trưng khi diễn cảm, và nhất là thiếu trải nghiệm thực tế rất khó thành công.

Ca sĩ thế hệ trước như : Thanh Thúy, Phương Dung, Trang Mỹ Dung, Giao Linh, Thanh Tuyền, Duy Khánh, Chế Linh, Hương Lan, Thái Châu, Tuấn Vũ, Thiên Trang, Phương Hồng Quế hát các nhạc phẩm Bolero : “Hoa nở về đêm”, “Hai mùa mưa”, “Sầu lẻ bóng”, “Con đường xưa em đi”, “Căn nhà ngoại ô”, “Người yêu cô đơn”, “Đêm tâm sự”, “Yêu một mình”…

Thời đó, kỹ thuật ghi âm đĩa nhựa còn sơ sài, không thể can thiệp giọng ca để có chất lượng như âm thanh điện tử bây giờ. Ca sĩ phải không ngừng rèn luyện mọi mặt và nhất là biết ơn nuôi dưỡng của khán thính giả mới trưởng thành. Với kỹ thuật thu âm họ chỉ cần hát sai một từ, thiếu nhạc cảm hoặc rớt một nhịp là phải hát lại từ đầu và có thể lập lại nhiều lần cùng ban nhạc rất vất vả. Nhạc cụ đệm cho các ca sĩ hát cũng đơn giản, chỉ là guitar điện, trống jazz nhưng âm thanh trong sáng của tiếng nhạc, tinh tế của từng nhạc cụ mộc hòa quyện với giọng hát mộc mạc, đời thường, nhẹ nhàng, ngọt ngào nhưng da diết, tự nhiên như thổ lộ tâm tư, kể chuyện với người nghe bằng một cảm xúc rất chân thật, hồn nhiên. Những câu chuyện về bạn bè, về tình yêu lỡ làng, về đời lính, về rủi may, giàu nghèo của phận người…!

Bởi người nghệ sĩ đã mang nỗi buồn ly loạn vào ca từ, điệu nhạc… chất xúc tác từ cuộc sống không cần trường trại sáng tác tốn tiền mọi người như bây giờ. Từ đó, Bolero ít khi thiếu vắng trong sinh hoạt giải trí cộng đồng, nó như một phong vị ở Nam bộ được rất nhiều người yêu chuộng. Thời gian gần đây, nhiều ca sĩ chuyên hát nhạc trẻ chuyển sang hát Bolero bởi nó sống lại sau nhiều thập niên bị vùi dập thăng trầm, có người gây dựng được tên tuổi nhưng cũng có ca sĩ không phải sở trường, tranh giành danh lợi. Họ chỉ hát trong trí tưởng tượng, chưa qua trải nghiệm thực tế để ca đúng với tâm hồn.Ca sĩ thế hệ sau như : Trường Vũ, Như Quỳnh, Ngọc Sơn, Lệ Quyên, Quang Lê, Mai Kiều, Lưu Trúc Ly, Quỳnh Trang, Phương Anh, Thiên Quang, Đào Anh Thư, Phương Ý, Giang Hồng Ngọc, v.v… đầy tài năng nhưng bây giờ người ta vừa nghe ca sĩ hát lại vừa xem, ca sĩ nào trẻ đẹp, có ngoại hình bắt mắt dưới đèn màu hoặc pha trò nhảm nhí, “lập dị” giỏi thì có nhiều thuận lợi xem như các hình thức biến đổi về tiết tấu…

Âm nhạc là môn nghệ thuật rất gần gũi với con người, là Nhà hòa giải tranh chấp giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Nó được các nghệ sĩ tài năng truyền đạt nguyên lý và kỹ thuật qua tác phẩm của họ. Chiếu sáng vào những cõi sâu thẳm trong trái tim con người. Khi nghệ thuật bị thương mại hóa đến cao độ thì thiếu vắng những tác phẩm giá trị mặc dù đời sống vật chất ca sĩ và cả nhạc sĩ bây giờ không còn khó khăn, thiếu thốn như thời trước. Khi vắng bóng giáo dục thẩm mỹ thì khán giả thiếu hiểu biết nên “cần sự thông thái để hiểu được sự thông thái : âm nhạc chẳng là gì nếu người nghe đều là điếc” không thẩm thấu cảm âm được tác phẩm, chỉ biết nghe và a dua cổ vũ những điều nhảm nhí dung tục do hiệu ứng bầy đàn cho những “nghệ sĩ” nương tựa công nghệ PR nhưng thực chất thiếu văn hóa biểu diễn và kiến thức rồi tự phong trở thành “ông hoàng” hoặc “nữ hoàng” của loại nhạc này, “thần tượng” dòng nhạc kia thì chưa đủ “mua vui một vài trống canh”!

Một ca sĩ chân chính họ hoàn toàn vì đam mê và sống thực với nghệ thuật âm nhạc chứ không vì mục đích nổi tiếng để hái ra tiền một cách dễ dàng và một nhạc sĩ sáng tác chân chính họ luôn sống vì duyên nghiệp nghệ thuật với tâm hồn thảnh thơi, soạn nhạc với lòng tự trọng để không lặp lại người khác, không quan tâm hội hè danh lợi tiêu tốn thuế dân, thấu hiểu tình cảm và sắc thái trong biểu diễn, biết nghe âm thanh một cách đúng đắn.

Âm nhạc không chỉ giúp con người giải trí mà còn mang đến những giá trị nghệ thuật lẫn giáo dục thẩm mỹ. Thưởng thức âm nhạc để xóa mọi khoảng cách văn hóa, kết nối tâm hồn không biên giới hướng con người đến Chân – Thiện – Mỹ chứ không phải để rao bán cho người làm nghề giải trí, mua vui. Nếu các nhà quản lý nghệ thuật có tầm hiểu điều này cũng có thể hóa giải tranh cãi Bolero chưa có điểm dừng trong công chúng và nghệ sĩ chăng.